Ngày 30/11, tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng, Phó chủ tịch Hội đồng điều phối vùng Tây Nguyên chủ trì Hội nghị Hội đồng điều phối vùng Tây Nguyên lần thứ hai, chuyên đề về Quy hoạch vùng Tây Nguyên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đồng chủ trì Hội nghị có Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai Hồ Văn Niên, cùng sự tham dự của các bộ, ngành trung ương, các địa phương vùng Tây Nguyên, các chuyên gia và nhà khoa học.

Hội nghị điều phối vùng Tây Nguyên lần thứ hai về Quy hoạch vùng Tây Nguyên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện hiệu quả vai trò của Hội đồng điều phối vùng cùng nhau thảo luận về những “nút thắt”, “điểm nghẽn” phát triển của vùng trong thời gian vừa qua và đề ra mục tiêu, phương án phát triển cũng như giải pháp tổ chức thực hiện trong thời gian tới; thúc đẩy liên kết nội dung, liên vùng để hướng đến mục tiêu phát triển vùng Xanh – Hài Hòa – Bền vững.

Hội nghị Hội đồng điều phối vùng Tây Nguyên lần thứ hai. (Ảnh: MPI)

Chủ động kiến tạo phát triển với tư duy mới, tầm nhìn mới cho vùng Tây Nguyên

Vùng Tây Nguyên là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của cả nước. Trong quá trình phát triển, các địa phương trong vùng đã nhận thức ngày càng rõ hơn về vai trò, vị trí, tầm quan trọng đối với vùng; nhiều điểm nghẽn đối với phát triển được khơi thông, tiềm năng, lợi thế của vùng và từng địa phương trong vùng từng bước được phát huy; đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực.

Tuy nhiên, phát triển của vùng trong thời gian vừa qua còn hạn chế: Tăng trưởng kinh tế thiếu bền vững, có xu hướng chậm lại; GRDP bình quân đầu người vẫn ở mức thấp nhất trong 6 vùng kinh tế – xã hội. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài rất thấp. Giảm nghèo chưa bền vững, số hộ nghèo, cận nghèo lớn, nguy cơ tái nghèo còn cao; khoảng cách giàu – nghèo giữa các nhóm dân tộc chậm được thu hẹp; tỉ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới còn thấp.

Tình trạng di dân tự do vào Tây Nguyên ngày càng phức tạp; đất sản xuất, đất ở của đồng bào dân tộc thiểu số chậm được giải quyết. Công tác xử lý đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường còn nhiều bất cập. Tỷ lệ che phủ rừng giảm mạnh và không đạt mục tiêu đề ra; rừng tự nhiên suy giảm về cả diện tích và chất lượng. Nguồn nước có nguy cơ cạn kiệt, tình trạng khô hạn diễn biến thất thường. Nhiều di sản văn hóa dân tộc đang đứng trước nguy cơ bị mai một, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp chưa được chú trọng.

Giáo dục, đào tạo chuyển biến chậm; chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động thấp. Công tác chăm sóc sức khoẻ, dịch vụ y tế cơ bản còn thấp so với mức trung bình cả nước.

Liên kết nội vùng và liên vùng chưa chặt chẽ, còn hình thức. Mạng lưới kết cấu hạ tầng vùng, liên vùng thiếu và yếu, nhất là hạ tầng chiến lược (giao thông, y tế, giáo dục, hạ tầng số) chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. An ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, vấn đề tôn giáo, dân tộc, tình hình khiếu kiện, tranh chấp đất đai vẫn còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp.

Hạn chế và yếu kém trên chủ yếu do nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của vùng; tư duy về liên kết vùng chậm được đổi mới; chất lượng các quy hoạch còn thấp, thiếu liên kết, đồng bộ; nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng chưa được quan tâm đúng mức, nhất là hạ tầng giao thông liên vùng; quản lý đất đai, di dân, bảo vệ rừng chưa hiệu quả; các cơ chế, chính sách cho vùng chưa có trọng tâm, trọng điểm và chưa sát với thực tiễn; thể chế liên kết vùng chưa đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả; các địa phương chưa phát huy hết tiềm năng, cơ hội, lợi thế cạnh tranh của mình và của vùng.

Xuất phát từ những hạn chế nêu trên, Quy hoạch vùng Tây Nguyên thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là bản quy hoạch vùng được tổ chức lập theo cách tiếp cận tích hợp đa ngành theo quy định của Luật Quy hoạch, nhằm cụ thể hóa tầm nhìn, quan điểm, mục tiêu phát triển vùng đã được xác định tại Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030 của đất nước, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Đặc biệt hơn nữa, Quy hoạch vùng Tây Nguyên đã cụ thể hóa hơn phương phướng tổ chức không gian và phát triển các ngành, lĩnh vực chủ yếu của vùng Tây Nguyên đã được đề ra Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 81/2023/QH15 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia và các Quy hoạch ngành cấp quốc gia đã và đang được phê duyệt.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, bản Quy hoạch vùng này có ý nghĩa quan trọng, giúp “mở đường”, chủ động kiến tạo phát triển, với tư duy mới, tầm nhìn mới để tạo ra cơ hội mới, động lực phát triển mới và giá trị mới cho vùng; trong đó chú trọng giải quyết các vấn đề liên ngành, liên vùng, liên tỉnh; tái tổ chức không gian phát triển vùng và khai thác, phát huy có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển vùng nhanh, bền vững. Quy hoạch vùng cũng là căn cứ quan trọng để đề xuất kế hoạch đầu từ công trung hạn giai đoạn 2026-2030, đặc biệt là các dự án lớn, có tính liên vùng.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng phát biểu tại Hội nghị. (Ảnh: MPI)

Xác định rõ vị trí vai trò của quy hoạch, ngay từ những ngày đầu tổ chức lập Quy hoạch vùng Tây Nguyên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và các địa phương trong vùng để triển khai lập quy hoạch vùng. Quy hoạch vùng được xây dựng nghiêm túc, bài bản, công phu, khoa học, trên cơ sở cụ thể hóa Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết số 81/2023/QH15 của Quốc hội về Quy hoạch tổng thể quốc gia và các Quy hoạch ngành cấp quốc gia đã và đang được phê duyệt (Hiện nay, đã có 106/110 quy hoạch thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia đã được trình thẩm định xong (96%), trong đó có 17 quy hoạch cấp quốc gia và 25 quy hoạch tỉnh đã được phê duyệt).

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức các Hội nghị xin ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước; tổ chức các đoàn khảo sát và làm việc với 5 địa phương trong vùng, các cơ quan, đơn vị chuyên môn của các Bộ, ngành trung ương. Ngày 18/9/2023, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã gửi Hồ sơ quy hoạch vùng để xin ý kiến UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Bộ, ngành, 5 địa phương trong vùng và các địa phương liền kề. Trên cơ sở tiếp thu hợp lý các ý kiến tham gia, ngày 03/11/2023, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Tờ trình số 9197/TTr-BKHĐT gửi Hội đồng thẩm định Quy hoạch vùng kèm theo hồ sơ trình thẩm định Quy hoạch vùng Tây Nguyên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 để tham gia ý kiến thẩm định theo quy định.

Nhận diện, đề xuất 6 nội dung đột phá

Hội nghị đã nghiên cứu và đưa ra những nhận diện, đề xuất có tính mới, đột phá. 

Thứ nhất, Quy hoạch khẳng định quan điểm phải đổi mới tư duy về phát triển vùng, chủ động nắm bắt, tận dụng các cơ hội, tập trung nguồn lực giải quyết các điểm nghẽn, mâu thuẫn, xung đột, cản trở trong phát triển. Trong đó, việc quan trọng là phải tạo các cơ chế, chính sách để hình thành các động lực tăng trưởng mới, không gian phát triển mới.

Thứ hai, Quy hoạch vùng nhấn mạnh yêu cầu phát triển kinh tế nhanh và bền vững dựa trên khai thác các nguồn lực và động lực tăng trưởng mới một cách bền vững. Chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp hiệu quả cao, dựa trên ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số. Phát triển kinh tế phải có trọng tâm trọng điểm tập trung vào các ngành có lợi thế như: nông nghiệp, du lịch, công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo. Từng bước tái cơ cấu và phát triển kinh tế vùng theo hướng ưu tiên phát triển các ngành kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Đưa văn hóa Tây Nguyên trở thành động lực, nền tảng cho phát triển và hội nhập của Vùng. Bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa, giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa của các dân tộc đồng bào thiểu số. Bảo đảm an ninh, quốc phòng là nhiệm vụ hàng đầu của Tây Nguyên với cả nước. Tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng, giữ vững thế trận an ninh nhân dân. Xây dựng và phát triển vùng Tây Nguyên phải kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế văn hóa, xã hội và bảo vệ tài nguyên, môi trường gắn chặt với quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Thứ ba, tổ chức không gian Vùng được xác lập trên cơ sở tuân thủ các không gian bảo tồn tự nhiên, sinh thái, môi trường; tuân thủ không gian cho các khu vực an ninh, quốc phòng; phát huy lợi thế và điệu kiện phát triển đặc thù của từng tiểu vùng; nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn hệ sinh thái. Phát triển vùng Tây Nguyên theo mô hình “3 cực – 3 tiểu vùng – 5 hành lang”. Trong đó: 3 cực phát triển gồm: thành phố Pleiku, thành phố Buôn Ma Thuột và thành phố Đà Lạt. 3 tiểu vùng gồm: Tiểu vùng Bắc Tây Nguyên (gồm có 2 tỉnh là Kon Tum và Gia Lai); Tiểu vùng Trung Tây Nguyên (gồm 1 tỉnh là Đắk Lắk); Tiểu vùng Nam Tây Nguyên ( gồm có 2 tỉnh Đắk Nông và Lâm Đồng). 05 hành lang kinh tế gồm: (i) Hành lang kinh tế Đông Tây; (ii) Hành lang kinh tế Bờ Y – Pleiku – Quy Nhơn; Hành lang Mundulkiri – Đắk Lắk – Phú Yên; (iii) Hành lang kinh tế dọc cao tốc Buôn Ma Thuột – Khánh Hòa; (iv) Hành lang kinh tế dọc cao tốc Dầu Giây – Đà Lạt – Nha Trang; (v) Hành lang kinh tế Bu Prăng – Gia Nghĩa – Bảo Lộc – Bình Thuận.

Thứ tư, Quy hoạch vùng hướng tới thúc đẩy hình thành các trung tâm kinh tế tổng hợp, chuyên ngành của vùng theo lợi thế và vị thế để trở thành các cực tăng trưởng của Vùng. Phát triển đô thị và các điểm dân cư nông thôn phù hợp với các điều kiện đặc trưng về tự nhiên, bản sắc văn hóa. Ưu tiên bố trí ổn định các điểm dân cư của đồng bào dân tộc thiểu số, phù hợp với tập quán và phương thức sản xuất mới. Đảm bảo, giải quyết căn bản vấn đề đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số. 

Thứ năm, Quy hoạch vùng đưa ra các phương hướng phát triển kết cấu hạ tầng nhằm hướng tới mục tiêu kết cấu hạ tầng Tây Nguyên được kết nối đồng bộ trong đó hạ tầng số, hạ tầng giao thông là các nền tảng quan trọng thúc đẩy Tây Nguyên kết nối với các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, hội nhập kinh tế quốc tế.

Thứ sáu, tiếp tục duy trì ổn định các vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài và sinh cảnh, khu rừng lịch sử cảnh quan có giá trị đa dạng sinh học cao; bảo tồn nguồn gen động thực vật rừng quý hiếm trong các khu rừng đặc dụng; tập trung xây dựng, củng cố các khu rừng phòng hộ nguồn theo các bậc thang thủy điện trên sông Srêpốk, sông Ba. Phát triển rừng sản xuất: trồng rừng nguyên liệu, nông lâm kết hợp, lâm sản ngoài gỗ; lâm nghiệp cộng đồng, dân tộc thiểu số; phát triển lâm nghiệp đô thị; Phát triển công nghiệp chế biến, thương mại lâm sản. Từng bước thay thế nguồn nước ngầm bằng nguồn nước mặt. Nguồn nước ngầm cũng như các nhà máy sử dụng nước ngầm sẽ được chuyển đổi thành nguồn dự trữ để tăng an toàn cấp nước.

Trên cơ sở ý kiến của Hội đồng điều phối vùng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tập trung nghiên cứu, tiếp thu và hoàn thiện hồ sơ Quy hoạch vùng để thẩm định; dự kiến trình phê duyệt trong tháng 12/2023.

Với sự quyết tâm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và sự nỗ lực của các Bộ, ngành và địa phương trong vùng, cũng như sự góp sức chung tay của các chuyên gia, nhà khoa học, bản Quy hoạch vùng Tây Nguyên với tư duy, tầm nhìn mới, mở ra cơ hội, không gian phát triển mới sẽ sớm đi vào cuộc sống, là cơ sở đặc biệt quan trọng để các cấp, các ngành, địa phương nghiên cứu xây dựng và triển khai thực hiện những chính sách, kế hoạch, chương trình phát triển, các dự án đầu tư và góp phần giúp cho vùng Tây Nguyên giàu truyền thống cách mạng với nền văn hoá dân tộc bản địa phong phú, đa dạng, là nóc nhà Đông Dương, “phên dậu phía Tây của Tổ quốc” sẽ có những bước phát triển phát triển nhanh và bền vững.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

jun88

jun88

789win

12Bet

Sex