Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp thì hộ kinh doanh (HKD) có thể chuyển đổi thành doanh nghiệp ở tất cả các hình thức doanh nghiệp trong nước. So sánh bản chất HKD và các hình thức doanh nghiệp khác thì hình thức doanh nghiệp tư nhân gần giống với HKD. Đây có lẽ là lý do trên thực tế hình thức này rất ít được HKD chuyển đổi. Trong khi đó, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), đặc biệt là công ty TNHH một thành viên là hình thức phổ biến nhất được HKD lựa chọn, vì đây là hình thức có một chủ sở hữu như HKD; việc HKD chuyển thành công ty cổ phần, tức là lựa chọn mở rộng sở hữu doanh nghiệp, mở rộng quy mô vốn và thành viên chiếm tỉ lệ rất nhỏ.

1. Hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật về mô hình hộ kinh doanh

Các quy định hiện hành về HKD còn có những bất cập khi áp dụng trong thực tiễn như: Chưa rõ ràng về trách nhiệm pháp lý; quyền kinh doanh; vốn và các chính sách khác (hỗ trợ chưa đồng bộ, sự quan tâm đối với một số lĩnh vực…), dẫn tới phần lớn các HKD đều hoạt động “cầm chừng”, không muốn chuyển đổi hình thức kinh doanh thành doanh nghiệp nhằm “né tránh” nghĩa vụ nộp thuế; không ký hợp đồng với các lao động… Như vậy, khung pháp lý hiện hành đã và đang hạn chế một phần sự phát triển của HKD trong quá trình hoạt động, cụ thể là:

– Về chủ hộ: Hộ kinh doanh có tính chất tổ chức sản xuất khép kín, khó thích ứng với các phương thức quản trị chuyên nghiệp, huy động rộng rãi sự đầu tư góp vốn và nhất là sự tham gia quản lý của các chuyên gia bên ngoài, tổ chức sản xuất liên kết theo các chuỗi giá trị toàn cầu. Sản phẩm dịch vụ của HKD khó đáp ứng các tiêu chuẩn quy định chung, đặc biệt là các chuẩn chung quốc tế. Các điểm bất lợi nói trên làm cho HKD không thể tận dụng được các cơ hội về hội nhập, mở cửa thị trường, cũng như không tạo điều kiện phát triển thể chế kinh tế thị trường hiện đại, liên kết các thị trường trong nước thành một thể thống nhất.   

– Về trách nhiệm pháp lý của HKD: Khái niệm HKD không rõ ràng, nên khó xác định quyền và trách nhiệm pháp lý giữa hộ, chủ hộ là cá nhân, thành viên gia đình. Điều này vừa gây khó khăn cho việc quản lý nhà nước đối với hình thức kinh doanh này (ví dụ: Cơ quan thuế cấp mã số thuế cho cá nhân thành lập hộ mà không phải hộ); vừa có thể gây ra rủi ro cho bên thứ ba.

Mặt khác, pháp luật hiện hành quy định HKD không hoàn toàn là thương nhân thể nhân, không có tư cách pháp nhân, nên khó xác định chế độ chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản của HKD (kể cả tài sản không đưa vào kinh doanh). Bởi vì, HKD không có tư cách pháp nhân nên không có sự độc lập về tài sản giữa HKD với chủ hộ. Hộ kinh doanh cũng gặp bất lợi trong việc huy động vốn vay từ các tổ chức tín dụng – ngân hàng (bao gồm việc tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước) so với các loại hình doanh nghiệp khác, do không có tài sản thế chấp để vay vốn. Đồng thời, hoạt động của HKD không bền vững và dễ bị chấm dứt (nếu chủ hộ chết, tai nạn, bệnh tật…). Đây là điểm hạn chế làm cho các đối tác quan ngại khi thiết lập quan hệ giao dịch với HKD. 

– Về quyền kinh doanh: Theo quy định hiện hành, HKD bị hạn chế về địa điểm kinh doanh, nên không thể tham gia vào các lĩnh vực, ngành nghề yêu cầu tổ chức kinh doanh phải có tư cách pháp nhân và vốn điều lệ không được thấp hơn mức vốn pháp định (như lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản…).

Mặc dù phát triển mạnh và rộng khắp cả nước nhưng mô hình HKD có những hạn chế về quyền kinh doanh nhất định như: Khó áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, ít cơ hội tiếp cận các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, do quy mô nhỏ và vốn chủ yếu là tự thân của chủ sở hữu (không lớn và không phong phú). Quy mô nhỏ cũng gây trở ngại cho HKD khi cập nhật những tiến bộ mới, công nghệ mới trong sản xuất – kinh doanh, có xu hướng làm theo kinh nghiệm, phát triển tự nhiên. Nếu mô hình kinh doanh không áp dụng trình độ quản trị tiến bộ khoa học để phát triển thành các doanh nghiệp như nhiều quốc gia khác trên thế giới thì rất dễ bị đánh bật ra khỏi thương trường, thụt lùi lại phía sau và dẫn đến nguy cơ giải thể. 

Ngoài ra, việc khó tiếp cận trong việc được cấp các tiêu chuẩn về nguyên vật liệu đầu vào, quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sẽ làm hạn chế khả năng mở rộng thị trường, tiêu thụ sản phẩm và cạnh tranh với các đối thủ cùng ngành nghề.

– Về huy động vốn: Vốn của HKD là do chủ hộ tự đăng ký, tự thân hoặc nguồn vốn vay từ bạn bè, người thân. Việc huy động vốn của HKD từ các tổ chức tín dụng rất khó khăn do đặc thù của mô hình kinh doanh là một thể nhân; trường hợp vay được thì lượng vay không nhiều và thời hạn vay cũng rất ngắn, khó đáp ứng nhu cầu mở rộng kinh doanh hay đổi mới kỹ thuật công nghệ một cách đồng bộ, hiệu quả… Chủ HKD có thể lấy những tài sản khác của mình để đầu tư hoặc nhân danh cá nhân huy động vốn cho HKD. Đối với những khoản vay dưới danh nghĩa cá nhân chủ HKD, dù mục đích vay vốn là phục vụ hoạt động kinh doanh, nhưng về bản chất vẫn là khoản vay của chủ HKD, tài sản bảo đảm khoản vay là của chủ HKD và người chịu trách nhiệm trả nợ cuối cùng cũng là chủ HKD, nên vốn vay được là không nhiều và thời gian đáo hạn ngắn. 

Hộ kinh doanh không được áp dụng quy định về phá sản nhằm hạn chế rủi ro cho người kinh doanh. Trong trường hợp này, Luật phá sản năm 2014 không thừa nhận phá sản với cá nhân, chỉ áp dụng đối với tổ chức bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã. Điều này khiến HKD gặp nhiều rủi ro khi kinh doanh không được pháp luật bảo vệ như với doanh nghiệp trước áp lực từ phía chủ nợ, khó tái hòa nhập thị trường khi đã bị phá sản.

– Về yêu cầu sản xuất kinh doanh hiện đại, xây dựng thể chế kinh tế thị trường mới và hội nhập kinh tế quốc tế: Với HKD, lợi nhuận còn lại (nếu có) và tín dụng phi ngân hàng từ bạn bè, người thân là nguồn chính để tái đầu tư mở rộng sản xuất. Hộ kinh doanh thường bỏ qua các quy định, luật lệ chính thức, nhất là về quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, điều kiện an toàn lao động và bảo vệ môi trường, nguyên tắc kế toán, kiểm toán và nộp thuế (nếu có theo hình thức thuế khoán). Hộ kinh doanh bị giới hạn bởi không gian, phạm vi thị trường và nhóm khách hàng địa phương, không có dư địa tiếp cận thị trường rộng lớn, thị trường quốc tế; không có cơ hội để tham gia chính thức và chính danh vào các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ hiện đại, có điều kiện như doanh nghiệp.

– Đối với người lao động: Tiền lương đối với người lao động: Do hoạt động của HKD chủ yếu là nhỏ lẻ, mang tính chất hộ gia đình, đa số HKD không có nội quy, quy chế lao động, quy định mức lương cụ thể, rõ ràng; chủ yếu là sự thỏa thuận cơ bản về mức lương giữa người lao động và người sử dụng lao động, không có căn cứ trên cơ sở mức lương tối thiểu vùng. Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của người lao động.

Về nâng cao trình độ chuyên môn và chế độ cho người lao động: Hộ kinh doanh chưa đảm bảo được vấn đề nâng cao tay nghề, đào tạo, nâng cao trình độ trong ứng dụng công nghệ – kỹ thuật cho người lao động; vẫn còn tình trạng HKD không tham gia bảo hiểm xã hội đầy đủ cho người lao động, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động.

– Về quản lý nhà nước, công tác quản lý thuế: Theo quy định của Luật quản lý thuế thì các tổ chức, cá nhân thực hiện kinh doanh đều phải nộp thuế đầy đủ. Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện nghĩa vụ thuế của HKD dưới hình thức thuế khoán chưa có biện pháp quản lý chặt chẽ; chưa đảm bảo công khai, minh bạch trong xây dựng cơ sở dữ liệu về doanh thu khoán để tính thuế, mức khoán theo các tiêu chí ngành nghề, diện tích, thời gian, số lao động, địa bàn kinh doanh.

2. Xu hướng chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp

Hoạt động kinh doanh được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau trong đời sống xã hội như: Một cá nhân hoặc một doanh nghiệp, tập đoàn, hộ gia đình; hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội: Sản xuất – kinh doanh, tài chính, giải trí, dịch vụ thương mại… Những loại hình kinh doanh đang có hiện nay đều nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận thu được về cho chủ sở hữu. Tuy nhiên, thực tế HKD ở Việt Nam vẫn chưa phát huy hết tiềm năng của mình trong hoạt động kinh doanh, còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh như: Quy mô hoạt động nhỏ, phân tán, manh mún, vốn ít, công nghệ lạc hậu, trình độ tay nghề của người lao động còn thấp, hạn chế về sức cạnh tranh của hàng hóa, đặc biệt là các yêu cầu về tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ. Do HKD không có tư cách pháp nhân, không có vốn điều lệ, nên không thể tham gia vào các lĩnh vực, ngành nghề yêu cầu tổ chức kinh doanh phải có tư cách pháp nhân, vốn lớn, đặc biệt là các chứng nhận liên quan đến tiêu chuẩn, chất lượng quy trình sản xuất, nguyên liệu đầu vào, hàng hóa hay dịch vụ…

Nhận thấy những hạn chế, khó khăn trong phát triển kinh doanh, nhằm phát huy tối đa tiềm năng vốn có của mình, đảm bảo quyền tự do kinh doanh, pháp luật cho phép HKD được chuyển đổi thành các loại hình doanh nghiệp để không bị hạn chế trong hoạt động kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quy mô và tự do kinh doanh, huy động vốn dễ dàng hơn, tạo sự tin tưởng với đối tác hơn.

Chuyển đổi loại hình kinh doanh là việc chủ thể kinh doanh chuyển từ hình thức kinh doanh này sang hình thức kinh doanh khác để phù hợp với khả năng và nhu cầu đầu tư, đáp ứng tốt hơn nguyện vọng của các nhà đầu tư trong những trường hợp cụ thể. Việc chuyển đổi loại hình kinh doanh có thể giúp chủ thể kinh doanh mở rộng quy mô, tăng khả năng huy động vốn; ngoài ra, còn giúp chủ đầu tư chuyển đổi từ chế độ trách nhiệm vô hạn sang chế độ TNHH (như trường hợp chuyển đổi từ HKD thành công ty TNHH một thành viên). Sau khi chuyển đổi loại hình kinh doanh, chủ thể kinh doanh được chuyển đổi chấm dứt tồn tại và tiếp tục kế thừa các quyền, lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, hợp đồng lao động, các nghĩa vụ tài sản khác của chủ thể kinh doanh trước khi được chuyển đổi.

Trong số các loại hình kinh doanh, công ty TNHH một thành viên rất phù hợp cho HKD khi thực hiện chuyển đổi hình thức kinh doanh. Công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân hoặc tổ chức làm chủ (chủ sở hữu doanh nghiệp). Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ. Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; không được phát hành cổ phần, trừ trường hợp để chuyển đổi thành công ty cổ phần; được phát hành trái phiếu để huy động vốn.

Việc chuyển đổi từ HKD thành công ty TNHH một thành viên để tiếp tục duy trì chủ sở hữu một chủ là cá nhân hoặc hộ gia đình; thực hiện người đại diện theo pháp luật; chủ sở hữu 100% vốn điều lệ; có tư cách pháp nhân; có chế độ TNHH về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty, khả năng huy động vốn thuận lợi hơn, duy trì được sự quản trị, điều hành một chủ không quá phức tạp so với các loại hình doanh nghiệp khác. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi của chủ HKD là doanh thu hằng năm, thời gian hoạt động, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, kinh nghiệm của chủ hộ, trình độ chuyên môn, lĩnh vực hoạt động, môi trường kinh doanh, tiếp cận tài chính, thủ tục hành chính… Bên cạnh đó, những ưu đãi về thuế và các chính sách thủ tục chuyển đổi cho HKD sang công ty TNHH một thành viên cần được đơn giản hóa, minh thị và thống nhất.

Tuy nhiên, hiện nay việc chuyển đổi HKD thành công ty TNHH một thành viên còn gặp nhiều khó khăn, các HKD còn e ngại với những lý do là chưa tiếp cận được thực tiễn pháp luật về doanh nghiệp, không rõ về sổ sách kế toán, thủ tục chuyển đổi còn phức tạp, mức thuế mà doanh nghiệp phải chịu cao hơn so với HKD phải đóng. Việc nghiên cứu cơ sở pháp lý trước, trong và sau khi chuyển đổi HKD thành công ty TNHH một thành viên nhằm khuyến khích việc chuyển đổi cũng như hoàn thiện về mặt pháp lý là vấn đề rất cần thiết.

3. Một số khuyến nghị

Kinh nghiệm ở các nước phát triển cho thấy, quy định và chính sách áp dụng đối với các tổ chức kinh tế nếu chỉ dựa trên sự phân biệt thông qua hình thức tổ chức kinh doanh là không phù hợp, có thể là yếu tố tiềm ẩn gây ra biến tướng cho môi trường kinh doanh.

Các nước chỉ phân biệt các tổ chức kinh tế dựa trên đặc trưng về sở hữu, quyền, trách nhiệm của nhà đầu tư. Theo đó, các hình thức kinh doanh được tổ chức dưới 03 dạng cơ bản: Cá nhân kinh doanh; hợp danh; công ty cổ phần. Trên cơ sở đó, việc tổ chức đơn vị kinh doanh (doanh nghiệp) có thể chia thành các loại hình cụ thể hơn trong thực tế như: Cá nhân kinh doanh; hợp danh; hợp danh hữu hạn; TNHH một thành viên, TNHH hai thành viên; công ty cổ phần. Do đó, tất yếu phải chuyển HKD sang các loại hình doanh nghiệp, tức là cần “chính thức hóa” HKD để vận hành dưới khung thể chế chung (Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư và các luật khác có liên quan).

Pháp luật cho phép các chủ thể có quyền lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp với yêu cầu thông qua việc chuyển đổi. Xuất phát từ tổng quan thực tiễn và lý luận liên quan đến việc chuyển đổi HKD thành công ty TNHH một thành viên, tác giả đưa ra một số kết luận cơ bản như sau:

Thứ nhất, quyền tự do của công dân trong hoạt động kinh doanh được biểu hiện thông qua quyền tự do kinh doanh. Quyền tự do kinh doanh phải tiếp cận theo hướng đơn giản hóa điều kiện, thủ tục đăng ký kinh doanh, bãi bỏ nhiều quy định về điều kiện kinh doanh, mở rộng các nhóm quyền tự quyết của chủ thể kinh doanh, để đảm bảo quyền tự do kinh doanh và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư lựa chọn một mô hình kinh doanh phù hợp. Pháp luật Việt Nam đã ghi nhận nhiều mô hình tổ chức kinh doanh, đặc biệt là nhiều loại hình doanh nghiệp, đa dạng về mô hình chuyển đổi từ HKD thành các doanh nghiệp, trong đó có công ty TNHH một thành viên.

Thứ hai, quá trình hoạt động kinh doanh không tránh khỏi trường hợp có sự thay đổi quy mô sản xuất kinh doanh, nhu cầu mở rộng thị trường, tăng khả năng huy động vốn nên việc chuyển đổi HKD thành công ty TNHH một thành viên có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển quy mô sản xuất, kinh doanh trong thực tiễn. Bởi lẽ, tạo lập doanh nghiệp hiểu theo nghĩa rộng không chỉ là việc tạo lập ra một thể chế pháp lý khi khởi nghiệp, mà còn phát triển thực thể pháp lý đó trong quá trình kinh doanh bằng cách chuyển đổi cấu trúc pháp lý của nó cho phù hợp với năng lực tài chính, nguồn vốn, điều kiện, mục tiêu của nhà đầu tư. Việc chuyển đổi HKD sang công ty TNHH một thành viên là nhằm kiến tạo khung pháp lý đồng bộ cho các doanh nghiệp trên tinh thần đảm bảo tối đa quyền tự do kinh doanh. Do vậy, Nhà nước có trách nhiệm kiến tạo các điều kiện hỗ trợ và bảo hộ quyền tự do chuyển đổi HKD sang mô hình công ty TNHH một thành viên một cách hiệu quả trong thời gian tới.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

sex

789bet

jun88

jun88

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex